Dòng Sông Huyền Bí

Chương 20 - Khi Cô Ấy Trở Về

trước
tiếp

Bố mẹ Sean sống ở Wingate Estates, một khu dân cư khép kín với những ngôi nhà liền kề hai phòng ngủ cách thành phố khoảng sáu mươi cây số về phía Nam. Cứ khoảng hai mươi nhà thì hình thành một cụm có bể bơi chung và một trung tâm giải trí nơi mọi người thường tổ chức khiêu vũ vào các tối thứ Bảy. Ngoài ra còn có một sân gôn ba lỗ nhỏ hình trăng lưỡi liềm bên rìa khu dân cư, từ cuối hè tới đầu thu lúc nào cũng rì rào tiếng động cơ xe điện.

Cha Sean không chơi gôn. Từ lâu ông đã cho rằng đó là trò chơi của nhà giàu, đối với ông chơi gôn giống như phản bội lại nguồn gốc công nhân của mình. Mẹ Sean thì có thử chơi một thời gian nhưng rồi cũng bỏ cuộc vì cho rằng chồng bà đang âm thầm cười nhạo trang phục, tư thế chơi gôn và cái giọng gốc Ailen của bà.

Thế nên họ sống trầm lặng gần như không có bạn bè mặc dù Sean biết cha anh có quen biết một ông béo gốc Ailen tên là Riley cũng từng sống ở Buckingham trước khi chuyển tới đây. Riley cũng không có hứng thú chơi gôn nên thỉnh thoảng lại đi uống bia với cha Sean tại quán Ground Round phía bên kia đường 28. Còn mẹ Sean, bản chất vốn thích chăm lo cho người khác nên thường dành thời gian chăm sóc, giúp đỡ những người hàng xóm lớn tuổi hơn. Bà thường chở họ tới hiệu thuốc mua những thứ đã được kê đơn hay tới bác sĩ để lấy đơn thuốc mới. Những việc như thế khiến mẹ anh, năm nay gần bảy mươi tuổi, cảm thấy sung sức và trẻ lại. Nhất là số những người bà giúp đỡ phần lớn là quả phụ nên bà coi việc mình và chồng vẫn được khỏe mạnh sống bên cạnh nhau chính là một ân điển của bề trên.

“Họ chỉ có một mình, và cho dù bác sĩ không dám nói thì đó cũng chính là nguyên nhân khiến họ chết dần chết mòn.” Có lần bà nói với Sean khi nhắc tới những người bạn ốm yếu của mình.

Rất thường xuyên, mỗi khi đi qua trạm bảo vệ, lái xe trên trục đường chính, cứ mười mét lại gặp phải một gờ giảm tốc màu vàng khiến trục xe kêu lách cách, Sean dường như nhìn thấy những đường phố ma, những khu dân cư ma và những bóng ma mà cư dân Wingate bỏ lại sau lưng họ, như thể những căn hộ không có nước nóng, nhũng chiếc tủ lạnh màu trắng đục, những lối thoát hiểm dùng trong trường hợp hỏa hoạn bằng sắt uốn và tiếng trẻ em nô đùa đang trôi nổi qua khung cảnh trước mắt với những tòa nhà màu vỏ trứng và những thảm cỏ dày như một đám sương mù buổi sáng vượt quá giới hạn tầm nhìn của anh. Một thứ cảm giác tội lỗi vô cớ xâm chiếm lấy anh, thứ cảm giác tội lỗi của một đứa con trai gửi cha mẹ mình vào nhà dưỡng lão. Nói vậy là vô nguyên cớ vì khu Wingate Estates trên lý thuyết không phải một khu dân cư dành cho những người trên sáu mươi tuổi (dù trên thực tế ở đây Sean chưa từng gặp một ai dưới độ tuổi đó) và việc bố mẹ anh chuyển tới đây hoàn toàn là ý của họ, đóng gói mấy chục năm than phiền về cuộc sống trong thành phố, sự ồn ã, tình trạng tội phạm, nạn tắc đường để tới đây, một nơi mà như cha anh nói, có thể đi dạo vào buổi tối mà không phải ngó trước ngó sau.

Thế nhưng Sean vẫn cảm thấy anh đã phụ họ, như thể họ đã chờ anh níu kéo họ ở lại bên cạnh anh một cách kiên quyết hơn. Sean nhìn nơi đây và thấy cái chết hay ít nhất là chặng dừng chân cuối cùng trước khi chết, và điều khiến anh khó chịu không chỉ là ý nghĩ cha mẹ anh sẽ phải ở đây chờ đợi cho tới lúc ngưòi khác chở họ tới chỗ bác sĩ mà còn vì lo sợ bản thân mình cuối cùng cũng sẽ kết thúc ở một nơi như thế này. Mặc dù biết rằng rốt cuộc mình cũng chẳng có nhiều cơ hội hơn họ. Giống như lúc này đây không vợ, không con, không người quan tâm. Anh đã ba mươi sáu tuổi, đã đi hơn nửa chặng đường tới một căn nhà ở Wingate mà nửa chặng đường còn lại hẳn sẽ có tốc độ cao hơn nhiều.

Mẹ anh thổi tắt nến trên chiếc bánh sinh nhật đặt trên một chiếc bàn nhỏ trong một góc tường thụt vào giữa căn bếp tí hon và phòng khách lớn. Ba người lặng lẽ ăn bánh, uống trà giữa tiếng đồng hồ treo tường kêu tích tắc và tiếng điều hòa không khí rì rầm.

Ăn xong thì cha anh đứng dậy và bảo, “Để tôi đi rửa bát.”

“Thôi. Để tôi làm.”

“Bà cứ ngồi đấy.”

“Không. Để tôi rửa.”

“Bà cứ ngồi đó đi, hôm nay là sinh nhật bà mà.”

Mẹ anh ngồi lại, tủm tỉm cười trong khi cha anh thu dọn bát đĩa mang vào trong bếp.

“Cẩn thận với các mẩu thức ăn vụn nhé,” mẹ anh nói.

“Tôi sẽ chú ý.”

“Nếu ông không xả sạch hết xuống cống là sẽ lại có kiến đấy.”

“Chúng ta từng có một con kiến. Mỗi một con.”

“Nhiều hơn một con,” bà quay sang nói với Sean.

“Cách đây sáu tháng,” bố anh nói vọng ra lẫn trong tiếng nước chảy.

“Và chuột nữa.”

“Chúng ta chưa bao giờ có chuột.”

“Bên nhà bà Feingold có chuột đấy. Những hai con. Bà ấy phải đặt bẫy để bắt chúng.”

“Nhưng chúng ta thì không có chuột.”

“Đó là bởi vì tôi luôn nhắc ông không được để lại các mẩu vụn thức ăn trong bồn rửa.”

“Ối trời ơi,” cha anh kêu lên.

Mẹ Sean nhấp một ngụm trà rồi quay ra nhìn anh.

“Mẹ có giữ một bài báo cho Lauren,” bà nói rồi đặt tách trà xuống đĩa. “Mẹ cất nó ở đâu đó.”

Mẹ anh luôn cắt các bài báo và giữ lại để đưa cho anh mỗi lần anh tới chơi. Hoặc là bà gửi cho anh qua bưu điện một tập chín, mười bài báo xếp lại gọn ghẽ như nhắc nhở anh đã bao lâu không tới thăm bà. Chủ đề các bài báo rất phong phú nhưng đều liên quan tới các mẹo vặt làm việc nhà hay những bí quyết nhỏ trong cuộc sống như các biện pháp bảo dưỡng máy sấy quần áo, làm thế nào để thức ăn đông lạnh không bị khô và mất màu, ưu và nhược của việc lập di chúc khi còn sống, làm thế nào để tránh bị móc túi trong kỳ nghỉ, những lời khuyên về sức khỏe cho những người làm công việc có độ căng thẳng cao (với những khẩu hiệu kiểu “Đi bộ củng cố nhịp tim”). Đó chính là cách mẹ anh bày tỏ tình cảm với con trai, giống như ngày xưa bà vẫn thường cài lại khuy áo, chỉnh lại khăn quàng trong buổi sáng mùa đông trước khi anh tới trường và Sean vẫn buồn cười khi nhớ lại bài báo bà gửi cho anh hai ngày sau khi Lauren bỏ đi, một bài báo có nhan đề “Hãy thực hiện thụ tinh ống nghiệm”. Bố mẹ anh không bao giờ đoán được việc Lauren không sinh nở là sự lựa chọn của hai người bọn họ vì cả hai đều có chung một nỗi sợ hãi rằng mình chưa đủ tư cách làm cha mẹ.

Khi cô cuối cùng cũng mang thai, họ giấu hay không nói cho bố mẹ anh vì chưa biết có nên giữ lại đứa bé hay không trong lúc cuộc hôn nhân của họ đang trên đà tan rã. Cũng trong thời điểm đó Sean phát hiện Lauren có quan hệ với một tay diễn viên nên giận dữ mà mất khôn hỏi rằng, “Lauren, đứa bé là con ai?” và Lauren đốp lại, “Anh không tin thì làm xét nghiệm ADN khắc biết.”

Họ lần lữa không tới nhà bố mẹ anh ăn tối, khi bố mẹ anh lên thành phố thăm thì viện hết lý do này tới lý do khác để không thể ở nhà tiếp đãi họ, đầu óc anh như muốn nổ tung, dằn vặt bởi một mối sợ hãi rằng đứa bé không phải là của anh hay liệu nó đúng là con anh đi nữa, anh có thật lòng muốn có nó hay không.

Từ khi Lauren bỏ đi, mẹ anh vẫn cho rằng sự vắng mặt của cô chỉ là tạm thời, là vì cô “cần một thời gian suy nghĩ”, nên tất cả những bài báo bà cắt ra giữ lại là để cho cô chứ không phải cho anh, như thể một ngày nào đó chúng sẽ chất đầy một ngăn kéo tủ và cần tới sự hiện diện trở lại của cô để giải quyết chúng.

“Gần đây con có nói chuyện vói nó không?” Cha Sean từ trong bếp hỏi vọng ra, khuôn mặt ông khuất sau bức tuờng màu xanh lá cây chắn giữa hai người bọn họ.

“Lauren hả bố?”

“Ừ.”

“Chứ còn ai nữa?” mẹ anh vừa lục ngăn kéo vừa nói.

“Cô ấy có gọi điện. Nhưng chẳng nói gì.”

“Có lẽ con bé không muốn nói nhiều là vì…”

“Ý con là cô ấy không hề nói gì cả. Không nói lấy một lời.”

“Không nói lấy một lời?”

“Đúng thế.”

“Thế sao anh biết đó là vợ anh?”

“Con biết đó là cô ấy.”

“Nhưng bằng cách nào mà anh biết được đó là vợ anh?”

“Ôi trời ơi, con nghe thấy tiếng cô ấy thở, được chưa?”

“Lạ thật đấy,” mẹ anh nói. “Thế nhưng con vẫn nói chuyện với nó chứ?”

“Thỉnh thoảng. Nhưng càng ngày càng ít đi.”

“Thôi ít nhất thì hai đứa cũng còn liên lạc với nhau,” mẹ anh nói và đặt bài báo mới nhất mà bà sưu tầm xuống trước mặt anh. “Chắc nó thấy vậy là hay, con bảo với nó là mẹ nói thế nhé.” Bà ngồi xuống, dùng hai cạnh bàn tay ủi phẳng một nếp nhăn trên khăn trải bàn, “khi nào nó trở về ấy,” mẹ anh nói tiếp, mắt nhìn xuống nếp nhăn đã trở nên phẳng phiu dưới tay mình.

“Khi nào nó trở về ấy,” bà nhắc lại, một cách khẽ khàng, giống như giọng của một bà xơ, biết rõ trật tự cơ bản của mọi việc.

“Dave Boyle ấy, bố có nhớ cái lần cậu ta biến mất trước cửa nhà chúng ta không?” Sean hỏi cha anh khi hai người bọn họ ngồi tại một chiếc bàn chân cao trong quán bar Ground Round một tiếng đồng hồ sau đó.

Cha anh cau mày rồi tiếp tục tập trung vào việc rót nốt chỗ bia Killian còn lại vào chiếc vại để lạnh của mình. Khi đám bọt bia trào lên miệng vại và chảy xuống thành giọt cha anh mới lên tiếng đáp lại, “Gì cơ, anh không tự lôi báo cũ ra mà đọc được sao?”

“Thì…”

“Sao phải hỏi tôi? À quên, không phải báo mà là trên ti vi.”

“Nhưng lúc kẻ bắt cóc cậu ấy bị bắt thì báo chí đâu có đưa tin.” Sean hy vọng lý do đó đủ để khiến cha anh không nghi ngờ tại sao anh tự nhiên nhắc tới Dave vì chính anh cũng chưa có câu trả lời rõ ràng.

Không biết vì điều gì thôi thúc mà anh muốn đặt mình vào bối cảnh sự kiện để nhìn thấy chính mình trong thời điểm đó, một điều mà báo chí hay những tư liệu cũ không thể giúp được. Hay chỉ là vì anh muốn mở rộng phạm vi đối thoại giữa hai cha con ra bên ngoài những tin tức thông thường hay việc đội Red Sox cần một tay ném bóng thuận tay trái.

Đôi khi Sean có cảm giác như anh và cha mình có lần đã nói với nhau những chuyện nghiêm túc hơn là những lời tán gẫu, vô thưởng vô phạt (giống như anh với Lauren vậy) nhưng anh không tài nào nhớ ra nổi đó là những chuyện gì. Trong ký ức mù mờ của anh về tuổi trẻ, anh sợ rằng số lần hai cha con gần gũi, đối thoại chân tình với nhau, tưởng là nhiều tới mức không còn đếm được hóa ra không hề tồn tại, chỉ là do anh tự tưởng tượng ra.

Cha anh là một người trầm lặng, nửa câu sau của ông thường rơi vào im lặng và Sean đã mất gần như cả đời để diễn giải sự im lặng đó, lấp đầy những khoảng trống mà ông khơi ra rồi tự dựng lên một khái niệm về những gì ông muốn nói. Sau này chính Sean cũng băn khoăn không biết liệu anh có nói hết câu như anh vẫn tưởng hay bản thân anh cũng là một sinh vật lặng lẽ, và Lauren cũng vậy, anh nhìn thấy những khoảng im lặng của cô nhưng lại không làm gì cho tới khi thứ duy nhất của cô mà anh còn giữ lại đưọc chính là sự im lặng. Sự im lặng và tiếng không khí ì xèo trên điện thoại mỗi khi cô gọi tới.

“Sao anh lại muốn nhắc lại chuyện đó?” Cuối cùng cha anh cũng lên tiếng.

“Bố có biết vụ con gái của Jimmy Marcus bị sát hại không?”

Cha anh nhìn anh. “Là đứa con gái ở công viên Pen á?”

Sean gật đầu.

“Bố nhìn thấy tên của con bé nên cũng đoán là họ hàng gì đó, hóa ra là con gái của nó ư?”

“Vâng ạ.”

“Nó cũng bằng tuổi con mà con gái đã mười chín tuổi?”

“Jimmy có con bé vào lúc mười bảy tuổi thì phải, con cũng không rõ, khoảng hai ba năm gì đó trước khi đi tù ở Deer Island.”

“Lạy Chúa lòng lành. Thằng bé này thật đen đủi. Ông già nó vẫn ngồi tù đấy chứ?”

“Ông ấy mất rồi bố ơi,” Sean đáp.

Câu nói đó khiến cha anh bàng hoàng, đưa ông trở lại với những buổi chiều thứ Bảy trên phố Gannon, ông và cha của Jimmy ngồi uống bia và tán gẫu trong bếp còn hai đứa con trai họ chơi ở sân sau, tiếng cười tràn ngập không gian.

“Tệ thật. Ít nhất thì ông ấy cũng không phải chết ở trong tù chứ?” Cuối cùng cha anh cũng lên tiếng.

Sean định nói dối nhưng rồi lại lắc đầu. “Ông ấy chết ở trong tù. Ở Walpole vì bệnh xơ gan.”

“Lúc nào?”

“Không bao lâu sau khi bố mẹ chuyển đi. Cách đây khoảng sáu bảy năm.”

Cha anh mở miệng, tạo ra phát âm của từ “bảy” nhưng không có tiếng nào phát ra. Ông im lặng nhấp một ngụm bia, những vết đồi mồi trên mu bàn tay ông dường như sẫm hơn dưới ánh đèn màu vàng rọi trên đầu họ. “Thật dễ dàng mất đi khái niệm về không gian, mất đi khái niệm về thời gian.”

“Con rất tiếc.”

Cha anh nhăn mặt. Đó là phản ứng duy nhất của ông khi nhận những lời chia sẻ cảm thông hay những lời khen. “Tại sao lại nói vậy? Có phải là con gây ra chuyện đó đâu. Chính là Tim đã tự hại mình khi giết Sonny Todd.”

“Chỉ vì tranh cãi trong lúc chơi bi-a đúng không ạ?”

Cha anh nhún vai. “Cả hai bọn họ đều say. Ai mà biết được. Cả hai đều say khướt, đều to mồm và nóng tính. Chỉ là cơn thịnh nộ của Tim có tệ hơn Sonny Todd mà thôi.” Bố anh lại nhấp một ngụm bia nữa. “Thế nhưng việc Dave Boyle mất tích thì có liên quan gì tới… con bé tên là gì ấy nhỉ, Katherine à? Katherine Marcus?”

“Vâng.”

“Thì vụ mất tích kia có liên quan gì tới vụ sát hại con bé?”

“Con không nói là chúng có liên hệ với nhau.”

“Anh cũng không nói là chúng không liên hệ đúng không?”

Sean không kìm được nụ cười. Có lần trong phòng thẩm vấn, một tay anh chị sừng sỏ đã từ chối trả lời cảnh sát để tìm một luật sư giỏi nhất vì biết rằng nếu tiếp tục hẳn sẽ bị Sean tìm ra điểm yếu. Thế nhưng đối đầu với những người thuộc thế hệ của cha anh, vừa gan góc vừa đa nghi – thế hệ những người công nhân đầy hào khí, chẳng coi quyền hành ra gì – thì có tra khảo cả đêm cũng sẽ không moi được câu nào, mà tới sáng cũng vậy.

“Hai việc ấy có liên hệ hay không, bố đừng vội bận tâm.”

“Sao lại không?”

Sean giơ một tay lên vẻ đầu hàng. “Thì cứ coi như là để chiều con đi.”

“À, dĩ nhiên rồi. Lý do khiến ta vẫn còn sống chính là chờ cơ hội để làm con trai ta hài lòng.”

Tay Sean vô thức siết chặt lấy vại bia. “Con xem hồ sơ về vụ bắt cóc Dave. Nhân viên điều tra vụ đó đã chết. Chả ai còn nhớ gì về vụ đó nữa và nó vẫn được xếp vào danh mục những vụ án chưa được giải quyết.”

‘Thì sao?”

“Thì con nhớ là một lần bố có vào phòng con, hình như là một năm sau ngày Dave trở về và nói, ‘Chuyện đó đã kết thúc. Họ đã bắt được chúng.’ “

Cha anh nhún vai. “Họ bắt được một trong hai gã.”

“Thế tại sao lại không…?”

“Họ bắt đưọc hắn ở Albany. Bố nhìn thấy ảnh của hắn trên báo. Hắn thú nhận đã gây ra một số vụ cưỡng bức trẻ em ở New York, Massachusetts và Vermont. Hắn ta đã treo cổ trong ngục trước khi khai thêm chi tiết. Nhưng bố nhận ra mặt gã nhờ bản vẽ phác thảo của cảnh sát lúc ở trong bếp nhà mình.”

“Bố chắc chứ?”

Ông gật đầu. “Một trăm phần trăm. Nhân viên điều tra vụ này, tên ông ta là gì ấy nhỉ…”

“Flynn.”

“Mike FIynn, đúng thế. Bố vẫn giữ liên lạc với ông ấy, con biết đấy, có liên hệ một chút. Thế nên bố gọi cho ông ấy ngay sau khi nhìn thấy bức ảnh trên báo và ông ấy bảo chính là hắn. Dave cũng đã xác nhận điều đó.”

“Là gã nào ạ?”

“Gì cơ?”

“Là gã nào trong hai tên bọn chúng?”

“À. Là cái gã mà con tả như thế nào ý nhỉ, ‘Gã tóc dầu có vẻ ngái ngủ.’ “

Những từ ngữ trẻ con của Sean nghe có vẻ lạ lùng khi được thốt ra từ miệng cha anh ở phía bên kia bàn.

“Là tên ngồi bên cạnh.”

“Đúng thế.”

“Còn đồng bọn của hắn thì sao?”

Cha anh lắc đầu. “Hắn đã chết trong một vụ đâm xe. Là tên kia nói vậy. Đó là tất cả những gì mà bố biết được nhưng bố cũng không dám đảm bảo chúng đều đáng tin cậy. Nhưng mà tệ thật, đáng lẽ con phải nói cho bố chuyện Tim Marcus đã chết.”

Sean uống nốt chỗ bia còn lại rồi giơ chiếc vại rỗng ra trước mặt cha anh. “Một ly nữa không ạ?”

Cha anh nhìn vại bia một lúc rồi bảo, “Sợ quái gì, uống thì uống.”

Khi Sean mang đồ uống trở lại thì cha anh đang xem trò chơi Jeopardy tắt tiếng trên một trong những màn hình vô tuyến phía trên quầy bar. Lúc Sean ngồi xuống, cha anh nói với chiếc vô tuyến, “Robert Oppenheimer là ai?”

“Không có tiếng mà sao bố biết được họ sẽ hỏi thế?”

“Thì biết thế,” cha anh nói rồi rót bia vào vại, cau mặt trước câu hỏi ngớ ngẩn của Sean. “Các anh toàn thế. Bố không tài nào hiểu được.”

“Toàn thế là sao? Các anh là ai cơ ạ?”

Cha anh nâng vại bia chỉ về phía anh. “Thế hệ các anh ấy. Hỏi rõ lắm những câu mà chỉ cần động não một tí thôi là đã tìm ra đáp án.”

“À, vâng,” Sean đáp.

“Giống như chuyện của Dave Boyle ấy. Chuyện đã xảy ra hai mươi năm trước thì có liên quan gì? Anh cũng biết chuyện gì đã xảy ra mà. Thằng bé mất tích bốn ngày với hai gã lạm dụng trẻ em. Sau đó thế nào thì anh cũng đoán ra rồi. Thế mà bây giờ anh lại muốn đào xới chuyện đó lên lần nữa bởi vì…” cha anh dừng lại nhấp một ngụm bia, “… lý do quái quỷ gì thì bố không biết.”

Bố anh nhìn anh cười mụ mị, và anh cũng cười lại.

“Bố này.”

“Ừ.”

“Bố đang nói với con là không có chuyện gì trong quá khứ khiến bố trăn trở hay sao?”

Cha anh thở dài. “Ý bố không phải là thế.”

“Đúng là như thế mà.”

“Không, không đúng. Những chuyện không hay xảy ra với tất cả mọi người. Không trừ một ai. Con cũng không phải ngoại lệ. Nhưng cái thế hệ các anh, toàn những thằng thích gãi vào chỗ ghẻ. Không để thiên hạ được yên. Thế con có bằng chứng gì liên hệ Dave với cái chết của Katherine Marcus không?”

Sean cười to. Ông già anh bắt đầu giương nanh vuốt khích bác Sean bằng cụm từ “thế hệ các anh” chỉ vì muốn biết liệu Dave có can hệ gì vào cái chết của Katie.

“Thì cứ cho là có một số tình huống cho thấy bọn con cần phải để mắt tới cậu ta.”

“Con cho rằng đó là một câu trả lời ư?”

“Bố cho rằng đó là một câu nên hỏi sao?”

Cha anh nở một nụ cười sảng khoái, rạng rỡ cả khuôn mặt khiến ông như trẻ lại tới mười lăm tuổi và Sean nhớ lại khi anh còn nhỏ nụ cười ấy đã thắp sáng cả căn nhà như thế nào.

“Thế nên anh gài bẫy bố kể lại chuyện của Dave vì băn khoăn không biết liệu những gì mà hai gã kia gây ra cho cậu ta có thể biến cậu ta thành kẻ giết hại một cô gái trẻ hay không chứ gì.”

Sean nhún vai. “Kiểu như thế.”

Cha anh đảo đảo mấy hạt lạc trong cái bát đặt giữa hai người bọn họ rồi nhấp một ngụm bia, vẻ tư lự. “Bố không nghĩ vậy.”

Sean cười khẽ. “Bố biết cậu ta rõ vậy sao?”

“Không. Bố chỉ nhớ nó hồi còn bé. Nó thật không có cái vẻ đó.”

“Khối đứa trẻ ngoan lúc lớn lên lại gây ra những chuyện động trời không ai tin nổi.”

“Anh lại đang định giảng giải cho tôi về bản chất con người đấy hả?” Bố anh nhướng mày nhìn anh.

Sean lắc đầu. “Chỉ là kinh nghiệm làm cảnh sát thôi mà bố.”

Cha anh ngồi lún sâu vào lưng ghế nhìn Sean với một nụ cười tủm tỉm nơi khóe miệng. “Tiếp tục đi, mở mắt cho bố nào.”

Sean cảm thấy mặt mình hơi đỏ lên. “Không, con chỉ là…”

“Không sao, cứ tự nhiên.”

Sean cảm thấy ngốc nghếch. Bố anh có một khả năng kinh ngạc là có thể rất mau chóng khiến anh cảm thấy việc bày tỏ những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình làm việc của mình vốn rất bình thường trong con mắt của người khác lại có vẻ giống như trò khoe mẽ, hợm mình của một đứa con mới lớn trước mặt cha mình.

“Bố tin con chút đi. Con nghĩ con cũng có chút ít hiểu biết về con người và tội ác. Vì bố biết đấy, đó là công việc của con mà.”

“Thế nên anh cho rằng Dave có thể đã làm thịt cô bé mười chín tuổi kia ư Sean? Dave, cậu bạn mà con vẫn chơi cùng ở sân sau. Cái thằng bé đó ư?”

“Con nghĩ mỗi người đều có khả năng làm bất cứ chuyện gì.”

“Có nghĩa là bố cũng có thể làm thế.” Ông nói rồi đặt một tay lên ngực. “Hay mẹ con cũng vậy.”

“Không.”

“Tốt nhất là nên kiểm tra chứng cớ ngoại phạm của chúng ta cho chắc.”

“Con không có ý đó. Chúa ơi.”

“Rõ ràng là có. Anh chả nói ai cũng có khả năng làm bất cứ chuyện gì đấy thôi.”

“Trong giới hạn cho phép.”

“Ôi, sao bố không nghe thấy đoạn này.” Bố anh nói to.

Ông lại thành công – từ từ cho anh sập bẫy, giỡn với Sean như anh giỡn vỡi đám nghi phạm trong phòng thẩm vấn. Thảo nào Sean lại có tài tra hỏi như vậy. Vì đã học được từ một bậc thầy như cha anh.

Cả hai bọn họ ngồi im lặng một lúc rồi cha anh rốt cuộc lên tiếng. “Nhưng cũng có thể con nói đúng.”

Sean nhìn cha mình chờ đợi ông ra đòn tiếp theo.

“Có thể Dave đã làm cái điều mà con nghĩ. Bố cũng không biết nữa. Bố chỉ nhớ hồi nó còn bé. Nó lớn lên thế nào, bố cũng không hay.”

Sean cố gắng hình dung ra chính mình trong mắt cha anh. Có lẽ nào trong mắt ông, anh vẫn là một đứa trẻ chứ không phải là một người đàn ông đã trưởng thành. Mà như thế cũng phải thôi, khó mà trách ông không làm khác được.

Anh vẫn nhớ cái cách các bác của anh gọi cha mình, người em út trong một gia đình mười hai người con di dân từ Ailen tới Mỹ lúc cha anh mới năm tuổi. “Bill ngày xưa”, họ gọi ông thế, ám chỉ anh chàng Bill Devine tồn tại trước khi Sean ra đời.

Họ gán cho ông biệt hiệu “Kẻ sinh sự”. Nhưng tới giờ Sean mới hiểu được cảm giác và hàm ý bề trên của cách gọi đó, của những người ở thế hệ đi trước dành cho một người trẻ hơn, vì phần lớn các bác của Sean đều nhiều hơn cha anh từ mười hai tới mười lăm tuổi.

Tất cả bọn họ đều đã qua đời. Mười một người anh chị của cha anh. Chỉ còn lại người em út trong gia đình, đã gần bảy mươi lăm tuổi, hiện sống thu mình ở một khu vực ngoại ô với một sân gôn mà ông không bao giờ sử dụng. Người cuối cùng còn lại chính là người trẻ nhất, lúc nào ông cũng là người trẻ nhất, nhưng vẫn luôn thủ thế trước mọi sự chiếu cố dù là nhỏ nhất của người khác, nhất là từ chính con trai ruột của mình. Ông sẵn sàng đóng cửa lại với cả thế giới nếu cần thiết, còn hơn là phải chịu đựng sự chiếu cố của người khác, thậm chí chỉ nghĩ tới điều đó thôi cũng không thể chấp nhận được. Bởi vì tất cả những người có quyền cư xử như thế với ông đều đã rời khỏi thế giới này từ lâu lắm rồi.

Cha anh liếc nhìn vại bia của Sean rồi thảy mấy đồng tiền lẻ lên bàn làm tiền boa. “Anh hỏi xong rồi chứ?”

Họ băng ngang qua đường 28 rồi rẽ vào cổng chính khu dân cư với những gờ giảm tốc màu vàng ở giữa và các vòi phun nước tự động ở hai bên.

“Anh biết mẹ anh thích gì không?” cha anh hỏi.

“Gì cơ ạ?”

“Khi anh viết cho bà ấy. Anh biết đấy, thỉnh thoảng gửi cho mẹ anh một cái bưu thiếp chẳng cần vì lý do gì cả. Bà ấy vẫn nói anh hay gửi những tấm bưu thiếp rất ngộ nghĩnh và bà ấy rất thích cách hành văn của anh. Bà ấy giữ tất cả bọn chúng trong một cái ngăn kéo. Có cả những cái từ hồi anh đi học.”

“Vâng ạ.”

“Thỉnh thoảng lại gửi cho bà ấy một cái được không? Bỏ vào thùng thư ấy.”

“Con sẽ gửi.”

Họ đi tới xe của Sean và cha anh nhìn lên những khung cửa sổ tối om trong ngôi nhà hai tầng của mình.

“Mẹ đi ngủ rồi ạ?” Sean khỏi.

Cha anh gật đầu. “Sáng mai bà ấy phải lái xe đưa bà Coughlin đi trị liệu sức khỏe.” Cha anh đột ngột chìa tay ra bắt tay Sean. “Rất vui gặp lại con.”

“Con cũng thế.”

“Con bé sẽ quay lại chứ?”

Không cần hỏi Sean cũng biết cha anh đang nhắc tới ai.

“Con không biết. Con thật tình cũng không biết nữa.”

Cha anh quan sát anh một lúc dưới ánh sáng màu vàng nhợt nhạt của ngọn đèn đường và Sean cảm thấy cha anh đang đau nhói trong lòng vì biết được rằng con trai ông đang thống khổ, bị bỏ rơi, bị tổn hại, và điều đó mãi mãi để lại trong lòng một vết sẹo, một sự mất mát vĩnh viễn không thể bù đắp.

“Thôi, dù sao thì trông anh cũng không đến nỗi. Có vẻ cũng biết tự chăm sóc bản thân. Nhưng anh có uống hơi nhiều quá hay làm gì lao lực không?” Cha anh hỏi.

Sean lắc đầu. “Chỉ là con có quá nhiều việc mà thôi.”

“Lao động là tốt,” cha anh nói.

“Vâng ạ,” Sean nói và trong cổ họng anh bỗng dâng lên một vị chua xót, một cảm giác bị bỏ rơi.

“Vậy…”

“Vậy thế nhé.” Cha anh vỗ vai anh. “Vậy cứ như thế đi. Đừng quên gọi điện cho mẹ anh vào ngày Chủ nhật.” Ông nói rồi rảo bước về phía cửa với những sải chân vững chãi của một người trẻ hơn ít nhất hai mươi tuổi.

“Bố nhớ giữ gìn sức khỏe,” Sean nói và cha anh giơ tay lên xác nhận thay cho câu trả lời.

Sean dùng điều khiển từ xa mở khóa xe nhưng vừa chạm tay vào nắm cửa thì nghe thấy cha anh gọi, “Này.”

“Gì ạ?” Anh quay lại và nhìn thấy cha anh đang đứng trước ngưỡng cửa, cả người trên như lẫn vào trong bóng đêm êm ả.

“Con đã làm đúng khi không chui vào chiếc xe ô tô ấy. Hãy nhớ lấy điều đó.”

Sean đứng tì vào xe ô tô của mình, hai tay đặt trên nóc xe, cố đoán ra vẻ mặt của cha anh trong bóng tối.

“Bọn con đáng lẽ ra phải bảo vệ cho cả Dave.”

“Các con lúc ấy chỉ là những đứa trẻ,” cha anh nói. “Các con làm sao mà biết được. Mà nếu các con có biết đi chăng nữa, Sean…”

Sean vẫn trầm ngâm, để những lời của cha anh trôi dần vào im lặng. Anh gõ gõ ngón tay lên nóc xe và tìm kiếm ánh mắt của cha anh trong bóng tối. “Con cũng vẫn bảo mình thế.”

“Vậy sao?”

Anh nhún vai. “Nhưng con vẫn nghĩ là bọn con lẽ ra phải biết. Vì một lý do nào đó. Bố không nghĩ vậy sao?”

Trong giây lát hai người bọn họ đều không nói gì và Sean nghe thấy tiếng dế kêu râm ran giữa những tiếng xì hơi của vòi phun nước tự động trên bãi cỏ.

“Ngủ ngon, Sean,” giọng cha anh vang lên.

“Ngủ ngon,” Sean nói và chờ cho cha anh vào hẳn trong nhà rồi mới trèo lên xe đi về.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.